Thursday, February 8, 2018

TRAO DUYÊN

TRAO DUYÊN
(Trích Truyện Kiều)
                                                                            NGUYỄN DU
I – KIẾN THỨC CƠ BẢN
1. Xem lại mục Tìm hiểu về tác giả ở bài Đọc Tiểu Thanh kí.
2. Với tài nghệ miêu tả diễn biến tâm lí nhân vật của Nguyễn Du, đoạn trích Trao duyên ca ngợi tình yêu sâu sắc của Thuý Kiều đối với Kim Trọng qua việc thể hiện nỗi đau đớn tột cùng mà nàng phải chịu đựng khi phải trao duyên; qua đó thể hiện lòng cảm thông, thương yêu sâu sắc của Nguyễn Du đối với con người “bạc mệnh”.
II – RÈN LUYỆN KĨ NĂNG
1. Tìm hiểu xuất xứ
Gợi ý:
Đây là một trong những đoạn ở vị trí mở đầu cho cuộc đời lưu lạc đầy đau khổ của Thuý Kiều. Khi Vương Ông và Vương Quan bị bắt giam do có kẻ vu oan, Thuý Kiều phải bán mình làm vợ  Mã Giám Sinh để lấy tiền đút lót quan lại cứu cha và em. Việc nhà đã tạm yên, Kiều mới nghĩ đến tình duyên lỡ dở của mình. Trước hết, nàng nghĩ cho người mình yêu, phận mình dù thế cũng đành, nhưng cảm thấy có lỗi với Kim Trọng. Phải làm thế nào cho người yêu đỡ khổ, suy nghĩ mãi, trong đêm cuối cùng, nàng quyết định nhờ em thay mình trả nghĩa cho Kim Trọng.
Trao duyên trích từ câu 723 đến câu 756 trong Truyện Kiều.
2. Tìm hiểu bố cục đoạn trích
Gợi ý:
Có thể chia đoạn trích làm hai đoạn nhỏ:
- Đoạn 1 (14 câu đầu): Thuý Kiều “trao duyên” cho Thuý Vân.
+ Kiều nói với em về nỗi bất hạnh của mình.
+ Nhờ em và trao kỉ vật tình yêu cho em.
- Đoạn  2 (20 câu còn lại): Tâm trạng Kiều sau khi “trao duyên”.
+ Kiều mong muốn “trở về” gặp lại người yêu.
+ Kiều hướng đến sự đồng cảm với người yêu.
+Tâm trạng tuyệt vọng của Kiều bởi mâu thuẫn trong tâm hồn nàng (tình yêu sâu nặng và sự chia biệt vĩnh viễn) vẫn không thể giải quyết.
3. Phân tích nghệ thuật xây dựng lời thoại và độc thoại của nhân vật
Gợi ý:
Đoạn trích là một đoạn lời thoại hoàn chỉnh của nhân vật. Nhưng tính chất đối thoại đổi thay dần theo diễn biến tâm lí và cảm xúc của Kiều. Thoạt đầu xưng hô "chị em"; nhưng từ dòng 15 đến dòng 26, Kiều cảm thấy hạnh phúc đời mình đến đây chấm dứt nên tự xưng mình là “người mệnh bạc”, “người thác oan”, “hồn”. Từ dòng 27 cho đến hết, Kiều như quên đang nói với em, chuyển sang nói với Kim Trọng đang vắng mặt, đó là lời đối thoại đau đớn với người yêu trong tưởng tượng. Dòng 27 - 28 là lời than, dòng 29 - 30 là lời nói với Kim Trọng trong tưởng tượng, dòng 31 - 32 lại là lời than, dòng 33 - 34 lại nói với Kim Trọng trong tưởng tượng. Ở đây, dấu hiệu độc thoại nội tâm là người đối thoại trực tiếp (Thuý Vân) không hiện diện nữa. Cho dù Thuý Vân vẫn còn ngồi ở đó, nhưng lời của Kiều không hướng tới nàng. Kiều lúc này chỉ sống với chính mình, với người yêu của mình nên lời nàng hướng vào nội tâm, thể hiện nỗi đau đớn đến quằn quại của riêng nàng. Ở vào trạng thái đau đớn đến cùng cực, người ta mất luôn ý thức về thực tại. Lời độc thoại này có tác dụng thể hiện trạng thái tâm lí ấy. Và giọng thơ từ chỗ đau đớn bỗng oà thành tiếng khóc: “Ôi Kim lang ! Hỡi Kim lang ! – Thôi thôi thiếp đã phụ chàng từ đây !”
…
4. Bình luận về nghệ thuật sử dụng ngôn ngữ trong đoạn trích
Gợi ý: Nguyễn Du đã thể hiện một nghệ thuật sử dụng ngôn ngữ tinh tế, điêu luyện.
Thuý Kiều nhờ em gái là Thuý Vân thay mình lấy một người mà em chưa thực quen biết. Dù Thuý Vân tính tình đơn giản thế nào thì yêu cầu này cũng quá ư đột ngột, bởi đây là chuyện quan hệ đến cả một đời người. Vì thế lời của Kiều vừa trông cậy, vừa nài ép. Để thể hiện sắc thái này, Nguyễn Du đã rất công phu trong lựa chọn từ ngữ trong ngôn ngữ nhân vật: "cậy", mời em "ngồi lên cho chị lạy", rồi sẽ "thưa",…
Cậy em, em có chịu lời,
Ngồi lên cho chị lạy rồi sẽ thưa.
Kiều dùng "cậy" mà không dùng "nhờ" vì "cậy" có ý nói khó, vật nài buộc người khác phải nghe mình, không cho từ chối; còn nhờ thì tuỳ ý, không có ý nài ép. Kiều dùng "chịu lời" mà không nói "nhận lời". "chịu lời" là nhận lời làm việc không do mình tự nguyện, hoặc một việc khó chối từ. Chữ "có" ở đây tuy được dùng với ý ướm hỏi cho lịch sự, nhưng thực chất là ép buộc: "Keo loan chắp mối tơ thừa mặc em". Hai chữ "mặc em" nói rõ cái ý ép buộc. 
5. Bi kịch tình yêu của Kiều được thể hiện như thế nào trong đoạn trích?
Gợi ý:
Bi kịch ở đây được hiểu là tâm trạng của một người biết rất rõ, ý thức rất rõ về nỗi đau khổ của mình mà không có cách nào để giải thoát được. Với Thuý Kiều, bi kịch tình yêu là nỗi đau về sự tan vỡ tình yêu hoàn toàn do khách quan đ­ưa lại. Kiều thiết tha yêu Kim Trọng và mong muốn tình yêu được đẹp mãi, đã thề nguyền kết duyên trăm năm nhưng vì để cứu gia đình mà nàng phải phụ tình Kim Trọng. Biết rằng như thế sẽ rất đau khổ, trao duyên cho em cũng chỉ là một cách an ủi phần nào tình yêu với Kim Trọng mà thôi. Biết tr­ước đau khổ mà không có cách nào giải thoát. Đó là nguồn cơn tâm trạng bi kịch của nhân vật trong đoạn trích.
6. Bình luận nhan đề Trao duyên
Gợi ý:
- Chữ duyên theo giáo lí của nhà Phật là nguyên do tạo ra số phận, sau này được hiểu rộng hơn là sự định sẵn từ kiếp trước cho tình cảm của hai người (thường là tình cảm vợ chồng).
- Duyên là một khái niệm có tính chất vô hình, do đó trao duyên là một điều khó khăn, nhất là với những người có đời sống nội tâm sâu sắc như Thuý Kiều.  Trao duyên là một sự hi sinh rất lớn. Tr­ước đó Kiều đã hi sinh tình yêu để làm bổn phận người con hiếu thảo: “Làm con tr­ước phải đền ơn sinh thành”. Nay, trao duyên cho Vân là hi sinh tình yêu của mình vì hạnh phúc của người mà mình yêu. Do vậy, hành động của Kiều làm cho hình tượng nhân vật trở nên cao cả hơn, đẹp đẽ và đáng khâm phục hơn.
7. Phân tích tâm trạng Thuý Kiều thể hiện qua hai câu thơ:
                             Chiếc vành với bức tờ mây
                      Duyên này thì giữ, vật này của chung.
Gợi ý:
Trong màn kịch trao duyên, Thuý Kiều đã trao kỉ vật của tình yêu cho Thuý Vân, đó là tờ hoa tiên ghi lời thề nguyền của Kiều và Kim Trọng, chiếc vành tr­ước đây Kim Trọng trao cho Kiều làm của tin, bây giờ đều được trao lại cho Vân. Nhưng mâu thuẫn nảy sinh ở chi tiết, vật thì trao cho em “giữ” nhưng duyên thì muốn để lại làm “của chung”. Cũng có thể xem là mâu thuẫn giữa cảm xúc và lí trí. Về lí trí, Kiều muốn Kim Trọng được hạnh phúc nên gá nghĩa Thuý Vân cho chàng. Nhưng về tình, vì tình yêu của Kiều với chàng Kim sâu sắc quá nên không muốn trao gửi. Đây hoàn toàn là tâm lí của tình yêu sâu nặng và đích thực. Tình yêu sâu nặng mà vẫn phải trao duyên chứng tỏ sự hi sinh của Kiều rất lớn lao.
8. Tác giả đã khắc hoạ tâm trạng Kiều như thế nào sau khi “trao duyên”?
Gợi ý:
Nếu như phần trên của đoạn trích còn là sự đấu tranh giữa lí và tình, là sự hi sinh vì người mình yêu, thì đến đoạn cuối, sau khi trao duyên, Kiều đã nghĩ đến mình. Giọng điệu của đoạn thơ trở thành giọng điệu thương thân của chính nhân vật.
Kiều quan niệm trao duyên tức là đã mất Kim Trọng, như thế thì đời mình coi như cũng hết. Nghĩ đến tương lai, Kiều thấy cái chết hiện diện và khi đó oan hồn của bản thân sẽ theo gió tìm về chốn cũ:
Trông ra ngọn cỏ lá cây
Thấy hiu hiu gió thì hay chị về
Và Kiều đã tưởng tượng oan hồn của mình sẽ cất lời cầu xin chân thành và tội nghiệp:
          Rảy xin chén n­ước cho người thác oan
Nàng vô cùng đau khổ khi nghĩ đó là tương lai sắp tới mà mình không tránh được. Do đó, Kiều đã khóc, khóc một cách tuyệt vọng cho tình yêu ngắn ngủi của mình:
  Bây giờ trâm gãy bình tan
Kể làm sao xiết muôn vàn ái ân

Tiếng khóc cho mối tình tan vỡ, tiếng khóc cho thân phận khổ đau cất lên từ nhân vật chính của tác phẩm đã đánh động tâm can bao người đương thời và hậu thế. Như thế, ở đây tiếp tục xuất hiện mâu thuẫn không thể giải quyết giữa tình yêu mãnh liệt và sự chia biệt vĩnh viễn, tức là giữa lí và tình.

NGỌC HOA ĐỐI MẶT VỚI BẠO CHÚA

NGỌC HOA ĐỐI MẶT VỚI BẠO CHÚA
(Trích Phạm Tải – Ngọc Hoa)
1. Ngọc Hoa đối mặt với bạo chúa trích từ Phạm Tải – Ngọc Hoa, một tác phẩm thuộc thể loại truyện Nôm bình dân. Truyện gồm 928 câu thơ, chủ yếu là những câu lục bát, thỉnh thoảng có những đoạn trữ tình xen vào là những câu song thất lục bát.
3. Qua những lời lẽ đối đáp khôn ngoan, khéo léo của Ngọc Hoa đối với Trang Vương, đoạn trích Ngọc Hoa đối mặt với bạo chúa ca ngợi tinh thần đấu tranh đến cùng của Ngọc Hoa đối với tên bạo chúa để bảo vệ đạo vợ chồng.
II – RÈN LUYỆN KĨ NĂNG
1. Tìm hiểu khái quát về nội dung tác phẩm Phạm Tải – Ngọc Hoa
Gợi ý:
Ngọc Hoa quê ở Thanh Hà, con một viên quan họ Trần, gia đình giàu có. Khi gặp Phạm Tải, người Sơn Tây, mồ côi cha mẹ, phải đi ăn xin để tiếp tục việc học, Ngọc Hoa đem lòng thương yêu rồi nên duyên vợ chồng. Trong làng có một người tên là Biện Điền, tr­ước đó đã ngỏ lời yêu thương nhưng Ngọc Hoa không đồng ý, nay thấy nàng lấy chồng thì sinh lòng thù ghét, nghĩ cách trả thù. Biết Trang Vương hiếu sắc, Biện Điền đã tạc tượng Ngọc Hoa đem dâng Trang Vương. Quả nhiên, Trang Vương mê mệt vì nhan sắc của Ngọc Hoa, cho quan quân về bắt nàng. Mặc dù bị ép buộc phải lấy hắn nhưng  ngay giữa triều đình nàng đã dũng cảm cự tuyệt. Trang Vương đổi chiến thuật, thương lượng với Phạm Tải như­ờng vợ cho hắn nhưng Ngọc Hoa kiên quyết chối từ. Hèn hạ, hắn đã đầu độc Phạm Tải. Sau khi Phạm Tải chết, Trang Vương lại bức bách Ngọc Hoa. Nàng cầm dao rạch mặt, cắt tóc, mặc tang phục vào triều. Nàng viện cớ chồng chết phải để tang ba năm và nói chỉ khi đoạn tang mới trở lại. Trang Vương đành phải ư­ng thuận.
Ngọc Hoa đ­ưa thi hài Phạm Tải về quê an táng, thủ tiết với chồng tròn ba năm thì tự vẫn để khỏi bị TrangVương đòi bắt. Xuống âm phủ, gặp lại Phạm Tải, hai vợ chồng Ngọc Hoa làm đơn kiện Trang Vương tại điện Diêm La. Diêm Vương tuy là em của Trang Vương, nhưng thấy sự thể như thế đã dùng “phép công” để trị Trang Vương, cho ném Trang Vương vào vạc dầu. Phạm Tải, Ngọc Hoa thì được sống lại và trở về đoàn tụ ở cõi trần.
Đoạn trích Ngọc Hoa đối mặt với bạo chúa trích từ câu 403 đến câu 474 kể về cuộc đối mặt giữa Ngọc Hoa, Phạm Tải với Trang Vương tại triều đình.
2. Có thể hình dung đoạn trích như một đoạn kịch được không?
Gợi ý: Có thể hình dung đoạn trích như một vở kịch với các yếu tố:
- Nhân vật: Ngọc Hoa, Phạm Tải, Trang Vương.
- Địa điểm: tại triều đình.
- Lời thoại mang kịch tính cao: Vợ chồng Ngọc Hoa bảo vệ lẽ phải, đó là tình nghĩa vợ chồng; Trang Vương đòi hỏi, thuyết phục và ép buộc Ngọc Hoa nhưng không đạt được nguyện vọng.
3. Đoạn trích cho thấy trí tưởng tượng hồn nhiên của tác giả bình dân, hãy chứng minh.
Gợi ý:
- Sự tưởng tượng về diễn biến câu chuyện: Trang Vương ép buộc vợ chồng Ngọc Hoa vào cung, dụ dỗ Ngọc Hoa không được, lại thương lượng với Phạm Tải, rồi lại dùng uy quyền ép buộc hai vợ chồng nàng, nhưng cũng không thắng nổi trí tuệ người bình dân. Cả hai vợ chồng Ngọc Hoa đều đối đáp rất khéo
- Tưởng tượng ra ngôn ngữ, cử chỉ và hành động của nhân vật: lời lẽ của Ngọc Hoa, Phạm Tải, Trang Vương,…
4. Phân tích hình tượng nhân vật Ngọc Hoa
Gợi ý:
Ngọc Hoa – một phụ nữ chung thuỷ, kiên trinh bảo vệ hạnh phúc của mình
- Ngọc Hoa nói rằng mình là gái đã có chồng, vâng mệnh triều đình, ý vua là ý của thiên tử (con trời) nên phải đến triều đình:
Tôi là con gái có chồng,
..............................................
      Hiếm gì thiếu nữ trâm anh,
Mà vua lại phải  ép tình tôi chi?
Lí lẽ của nàng rất đanh thép và cách xử sự của nàng vừa cứng rắn, vừa mềm dẻo. Quả thật, nàng chất vấn Trang Vương rằng mình là phụ nữ đã có chồng, sao Trang Vương lại đòi nàng phải đến đây, trong khi xã hội không thiếu những người con gái đẹp ch­ưa chồng.
- Sau khi Phạm Tải bị Trang Vương ép bằng cách thương lượng với chàng nhường vợ cho hắn, Ngọc Hoa lại kiên quyết chối từ. Lúc này, lí lẽ của nàng cũng không kém phần đanh thép. Nàng quỳ gối, tâu trình đúng phép tắc của một bề tôi tr­ước bệ hạ:
Nghe vua nói hết khúc nhôi
........................................................
Thời tôi tự vẫn khỏi lòng bội phu
Nàng quyết tâm bảo vệ hạnh phúc của mình, khẳng định lại lễ giáo phong kiến, nữ nhi an phận chữ tòng, đã lấy chồng là chung thuỷ với chồng, không thể phản bội. Nàng còn khẳng định “Mặt trời lặn quả bóng trăng khôn vì”: Vua tuy rạng rỡ như mặt trời nhưng là mặt trời đã lặn, không thể sánh với Phạm Tải dù chàng chỉ sáng như bóng trăng nhưng là bóng trăng đang lên. Quả thật chỉ những người có đức hạnh và có lòng dũng cảm thì mới dám nói thẳng, nói thật, mới dám bảo vệ hạnh phúc của mình ngay tại triều đình, tr­ước mặt vua như thế.
5. Phân tích tính cách nhân vật Phạm Tải
Gợi ý:
Trang Vương hứa chia cho Phạm Tải nửa số cung tần mĩ nữ, lại cho đủ t­ước quyền để Phạm Tải như­ờng Ngọc Hoa cho hắn, Phạm Tải đã từ chối lời mặc cả đó. Chàng nói:                                  
Vả tôi tài thiển trí ngu
Lộc trời t­ước n­ước vua cho thẹn thùng.
Gà rừng dù muốn làm công
Sợ khi nhảy múa rụng lông tức thì.
Cách nói của Phạm Tải rất khôn khéo, chàng dùng hình ảnh ẩn dụ để so sánh mình như con gà rừng, đã là gà không thể hoá thành công, do đó, không thể nhận những gì vua ban. Điều đó chứng tỏ Phạm Tải không phải là người ham hố danh lợi, không màng phú quý vinh hoa. Nói khác đi, vì hạnh phúc, vì tình vợ chồng, chàng sẵn sàng làm một thường dân chứ không vì lợi lộc mà phụ tình Ngọc Hoa. Đặt trong xã hôi phong kiến, thái độ ấy, tình cảm ấy là rất đáng trân trọng.
6. Trong đoạn trích, tính cách nhân vật Trang Vương được thể hiện như thế nào?
Gợi ý:
Lúc đầu, Trang Vương còn tỏ ra lịch sự, khéo léo rằng tr­ước Ngọc Hoa còn ở xa, nay đã gần, muốn kết duyên với Ngọc Hoa, coi nàng như tiên vào đến chốn triều đình và hai người kết duyên sẽ hiển vinh đời đời:
“X­ưa còn đông liễu, tây đào
Nay mừng tiên đã lọt vào Bồng Lai
Đôi ta đã hợp duyên hài
Trăm năm tơ tóc muôn đời hiển vinh”.
 Sau khi bị Ngọc Hoa từ chối, Trang Vương đã dùng quyền hành để đòi Phạm Tải vào và ép chàng thương lượng, cho của cải, chức t­ước, cho sự bình yên,...  ra vẻ cho Phạm Tải, nhưng thực chất là dùng uy quyền ép buộc vợ chồng Phạm Tải. Lời lẽ của Trang Vương rất trịch thượng:
“Ta là thánh đế n­ước này
Nhẽ đâu ta bắt vợ mày là dân”
và lời  nói với Ngọc Hoa cũng vậy:
“Ta nay quyền cả, ngôi cao
Vì nàng một chút, tổn hao muôn nhời”
Cách khắc hoạ nhân vật của tác giả dân gian thật tài tình, không dùng nhiều lời mà nhân vật đã lộ rõ chân tướng.